SƠ ĐỒ DÒNG HỌ NGUYỄN
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015
19:25
Unknown
NGÀY KỴ NHẬT
I/ NGHI LỄ
II/ NGÀY KỴ NHẬT
I/ NGHI LỄ
II/ NGÀY KỴ NHẬT
1/ Cụ ông Nguyễn Công Tiến:
Phần mộ: An tang tại mữu vầng (mả giữa). Xây bát giác với diện tích
36 m2
Ngày kỵ nhật 15 tháng 5 âm lịch.
Cụ bà Trần Thị Tâm:
Phần mộ: An tang tại Mả Am
Năm 1971 xây dựng bệnh viên, trong họ có đào di chuyển thì cụ đã về
mỏ.
2/ Cụ ông Nguyễn Công Hải:
Phần mộ: An tang tại mả mồ cội phia sau đền, phía tây chùa Đông Trụ.
Con cháu trong họ đã xây lăng năm 2003
Ngày kỵ nhật: Ngày 19 tháng 3 âm lịch.
3/ Cụ ông Nguyễn Trong Nhiêu:
Phân mộ: Con cháu quy tụ xây tại mả giữa.
Ngày kỵ nhật: Ngày 29 tháng 8 âm lịch.
Cụ Nhiêu bà:
Phân mộ:
Ngày kỵ nhật: Ngày 15 tháng 8 âm lịch.
4/ Cụ ông Nguyễn Trọng Cán.
Phần mộ: An tang tại mả giữa cạnh mộ tổ.
Ngày kỵ nhật: Ngày 12 tháng 7 âm lịch.
Cụ Cán bà.
Phần mộ:
Ngày kỵ nhật: Ngày 21 tháng 7 âm lịch.
5/ Cụ ông Nguyễn Trọng Khoan.
Phần mộ:
Ngày kỵ nhật: Ngày 28 tháng 4 âm lịch.
Cụ Khoan bà.
Phần mộ:
Ngày kỵ nhật: Ngày 21 tháng 12 âm lịch.
* Ngày kỵ nhật chính của
dòng họ
1/ Cụ ông Nguyễn Công Tiến: Ngày 15
tháng 5 âm lịch.
2/ Cụ ông Nguyễn Công Hải: Ngày 19
tháng 3 âm lịch.
19:21
Unknown
PHẦN THỨ NHẤT
CỘI NGUỒN HỌ NGUYỄN
Vào triều đại
hậu Lê trước năm 1786, xã Tiến Thắng ngày nay tên gọi là Làng Bảo Đà. ở đây chỉ
có 2 dòng họ: họ Trần, họ Lê. Trong khoảng thời gian đó họ Nguyễn được hình
hành và phát triển do cụ Nguyễn Công Tiến người Bình Đà xã Bình Minh huyện
Thanh Oai tỉnh Hà Tây (này là Hà Nội) về đây lập nghiệp. Làng Bảo Đà đến vua
Thành Thái năm thứ 3 Tân Mão (năm 1891) làng Bảo Đà chia thành ba thôn: Đông
Trụ; Trung Kỳ; Phù Nhị
Cụ Nguyễn Công
Tiến thuộc đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn ở Bình Đà. (Bút tích của cụ Thiệu và cụ
Bành cung cấp).
Đời thứ nhất: Nguyễn Công Ích.
Đời thứ hai: Nguyễn Công Trai.
Đời thứ ba: Nguyễn Bảo Khê.
Đời thứ tư: Nguyễn Công Diện.
Đời thứ năm: Nguyễn Công Hiền.
Đời thứ sáu: Nguyễn Công Tiến.
Cụ Nguyễn Công
Tiến xuất thân trong gia đình nho giáo, cố phụ là Nguyễn Công Hiền là thầy đồ
nho, môn sinh của cụ có nhiều người trở thành quan lại trong xã hộ Phong Kiến. Cố
mẫu là Trần Thị Trang nguyên quán ở làng Bảo Đà. Cụ Tiến học biết chữ hán nôm
cụ đã viết nhiều văn thơ hán tự ca ngợi con người cảnh đẹp quê hương đất nước.
Trong đó cụ làm nhiều thơ văn lên án chế độ Phong Kiến và phỉ báng bọn quan lại
sấu sa đương chức thời bấy giờ. Bốn câu thơ còn lưu lại như sau:
Ô
nhục nô vong quốc
Chí than xà mã ngưu
Thế nhân chi chỉ cố
Ngưỡng vọng vô chí thiên
Dịch nghĩa:
Khổ nhục kiếp nô vong
Sống làm kiếp trâu ngựa
Đời người chỉ đói nghèo
Ngẩn mặt không thấy trời.
(Do
cụ Bành ở Bình Đà cung cấp)
Bọ quan lại
lúc ấy biết cụ dùng văn thơ đả kích chúng nhưng nể thày nên bọn quan lại không
dám đả động gì đến cụ và còn mời cụ ra làm quan nhưng cụ từ chối.
Cụ đang sống
đầm ấm trong gia đình nho giáo, không may cố mẫu lâm bệnh và qua đời, thời gian
không được bao lâu cụ phải sống cảnh gì ghẻ con chồng trong xã hộ Phong Kiến,
dẫn tới cụ phải bỏ nhà sống lưu lạc.
Cụ Nguyễn Công
Tiến về làng Bảo Đà quê mẹ sinh sống năm tháng trôi qua cụ tìm về thăm gia đình
quê hương vào lúc cố phụ Nguyễn Công Hiền lâm bệnh qua đời. Sau việc an tang ổn
định bọn quan lại có dịp bắt cụ về tội làm thơ đả kích chúng. Ra hình phạt đối
với cụ là: “Phát vẵng trục xuất” nghĩa là hết hạn tù phải đi nơi khác ở. Hết
hạn tù cụ Nguyễn Công Tiến về làng Bảo Đà quê mẹ xây dựng gia đình lập cơ
nghiệp. Về đây cụ kết duyên cùng với cụ Trần Thị Tâm, hai cụ sinh được 6 người
con.
1/ Nguyễn Công Trưởng -
Vô tự
2/ Nguyễn Công Bích - Biệt phái
3/ Nguyễn Công Luyện - Trung gián lạc phái
4/
Nguyễn Công Hải - Dòng dõi
tại ngõ Chùa
5/ Nguyễn Công Vịnh - Dòng dõi tại ngõ Trâu.
6/ Nguyễn Công Thắng -
Dòng dõi tại Phù Nhị
Khi trưởng
thành mỗi cụ sống một hoàn cảnh, lưu tán mỗi người một nơi, nay chỉ còn lại 3
ông tổ của 3 ngành họ Nguyễn.
1/ Dòng dõi cụ Nguyễn Công Hải
Địa chỉ: Xóm 3 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
Địa chỉ: Xóm 3 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
2/ Dòng dõi cụ
Nguyễn Công Vịnh
Địa chỉ: Xóm 5 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
Địa chỉ: Xóm 5 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
3/ Dòng dõi cụ
Nguyễn Công Thắng
Địa chỉ: Xóm 6 Nhân Tiến xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
Địa chỉ: Xóm 6 Nhân Tiến xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
Còn dòng dõi
cụ Nguyễn Công Luyện lạc phái xuống gần Cầu Vòi thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam
Định.
PHẦN THỨ HAI
NGUỒN GỐC NHÀ THỜ
Trước 2 thế kỷ
cụ Nguyễn Công Tiến là người đạt nền móng khai sinh ra họ Nguyễn thuộc làng Bảo
Đà – nay là xã Tiến thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.
Để đền đáp
công ơn người, sau khi người từ trần đến đời thứ tư con cháu phát triển đông
đúc đã đóng góp thành lập quỹ mua ruộng cày cấy để sử dụng tiết lệ hương đăng.
Đến năm 1903 niên hiệu Thành Thái năm thứ 15 họ Nguyễn ra đời đông đúc thành
một tổ chức. Dòng họ xây dựng nhà thờ đầu tiên trên 3 miếng đất tư thổ của cụ
Nguyễn Trọng Dưới ở phía nam Ngõ Nhất cũ (nay thuộc xóm 4 Nhân Thắng xã Tiến
Thắng: Khu vực nhà ông Phú ở). Trong họ đã cử ông Nguyễn Trọng Dưới làm Trưởng
tộc đầu tiên. Khi cụ dưới mất cụ Nguyễn Trọng Kiểu là con trai lên thay. Khi cụ
Kiểu mất bốn con trai cụ lưu lạc mất tích không còn người đứng ra thừa kế phụng
sự tổ đường. Trước tình hình trên trong dòng họ họp bất thường có đại diện ở
Bình Đà về dự, kết quả trong họ cử cụ Nguyễn Trọng Chúc (tức cụ Nhiêu) là cháu
cụ Hải đứng ra thỉnh nghinh hương đăng cao tằng khởi tổ Nguyễn Công Tiến,
Nguyên Công Hải và Nguyễn Công Ca (tức cụ Phó Ca) rước về thành kính tại gia.
Đến năm 1908 niên hiệu vua Duy Tân năm thứ 2 (năm
Mậu Thân) con cháu Ngành cụ Nguyễn Trọng Vịnh đứng ra thành lập nhà thờ riêng ở
xóm ngõ Trâu (tại nhà bà Vị xóm 5 Nhân Thắng) thờ cụ bà Trần Thị Tâm, cụ Nguyễn
Trọng Vịnh, cụ Nguyễn Trọng Quán và em Trực Ân (Mãnh tổ). Từ đây họ nguyễn có 2
nhà thờ, thờ tổ 2 ngành.
Sau khi cụ
Chúc thỉnh nghinh hương đăng về phụng sự tại gia đến lúc qua đời. Tiếp đến cụ
Nguyễn Trọng Giảng (tức cụ Cán), cụ Giảng qua đời đến cụ Nguyễn Trọng Tụng, cụ Tụng
mất cụ Khái là con thứ 3 của cụ Chúc thừa kế phụng sự tổ nghiệp. Cụ Khái bất
hạnh mạnh một hốt kiến soạn từ, chiểu luật lý trí đích tôn thừa trọng Nguyễn
Tất Tố (tức cụ Bá Khoan) dẫn giao từ húy kị nguyệt nhật hà nhân tiền đại nhận
phụng sự tổ tiên duy truyền lưu thế tư duy từ minh kê lưu hậu. Cụ Khoan mất năm
1912, cụ Nguyễn Trọng Giản là con trai cả đứng ra kế thừa, cụ Giản qua đời năm
1925 mới 41 tuổi. Cụ bà Trần Thị Bớt đứng ra phụng sự tại ngôi nhà gỗ 5 gian
của cụ Khoan để lại. Thời kì này con cháu trong họ đã phát đạt đóng góp quỹ tậu
ruộng tư điền, trong họ tự cày cấy thu hoa lợi để sử dụng hương đăng tiết lệ
trong năm. Đến năm hiệu Bảo Đại năm thứ 10 Ất hợi (năm 1935) cụ Bớt cùng ba con
trai (Nguyễn Lược, Nguyễn Tấn, Nguyễn Phụng) tiến cúng 3 miếng đất tư thổ ở
phia đông nam để dòng họ xây dựng nhà thờ. Trong họ đã bán 7 sào ruộng tư điền
cho ông Nguyễn Trong Nguyên người trong họ lấy 294 đồng.
Trong họ ủy
giao cho hai cụ Nguyễn Trọng Sỹ và Nguyễn Trọng Trì đứng ra tổ trức mua nguyên
vật liệu xây dựng ba gian thờ tổ và viền thờ bà cô tổ năm 1936 thì hoàn thành.
Sau khoảng
thời gian sử dụng nhà thờ xuống cấp nghiêm trọng. Ngày 15 tháng 5 năm 1988 nhân
ngày giỗ tổ trong họ đã họp và đi đến quyết định đóng góp để tu sửa cùng với lòng
thành kính của con cháu trai, gái ở xa quê hương cũng như ở gần thành tâm tiến cúng tu sửa nhà thờ. Xây lại tường, bệ
thờ, sửa mái ngói, lát nền, xây sân và tường bao đến tháng 3 năm 1993 thì hoàn
thành.
Sau 10 năm con
cháu trong họ đóng góp, công đức tiền và tiến hành trùng tu rỡ ra toàn bộ nhà
thờ và viền thờ bà cô tổ. Xây lại từ móng, giữ nguyên mái ngói cũ đến năm 2005 thì
hoàn thành. Hiện nay nhà thờ đã khang trang hơn.
PHẦN THỨ BA
MỘ PHẦN CAO TỔ - NGÀY KỴ NHẬT
1/ Cụ ông Nguyễn
Công Tiến:
Phần mộ: An
tang tại mữu vầng (mả giữa). Xây bát giác với diện tích 36 m2
Đến năm 2009
hai ngành họ xây dựng lại thành lăng 3 tầng
Ngày kỵ nhật
15 tháng 5 âm lịch.
Cụ bà Trần Thị Tâm:
Phần mộ: An
tang tại Mả Am
Năm 1971 xây
dựng bệnh viên, trong họ có đào di chuyển thì cụ đã về mỏ.
2/ Cụ ông Nguyễn
Công Hải:
Phần mộ: An
tang tại mả mồ cội phia sau đền, phía tây chùa Đông Trụ.
Đến năn 2003 con
cháu trong họ đã xây lăng hình bát giác cao 2 tầng
Ngày kỵ nhật:
Ngày 19 tháng 3 âm lịch.
* Ngày kỵ nhật chính của dòng họ xóm 3 Nhân Thắng xã
Tiến Thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.
1/ Cụ ông
Nguyễn Công Tiến: Ngày 15 tháng 5 âm lịch.
2/ Cụ ông
Nguyễn Công Hải: Ngày 19 tháng 3 âm lịch.
PHẦN THỨ TƯ
BÚT TÍCH CỦA MỘT SỐ CỤ ĐỂ LẠI
I/ Bút tích của cụ Nguyễn Trọng Sỹ
(Cụ Sỹ mất ngày 25 tháng 5 năm 1963)
Thành Thái thập bát niên lục nguyệt sơ thập
nhật Cao Đà tổng Đông Trụ xã (10/6/1925). Thừa kế tổ nghiệp dẫn giao từ húy kỵ
tiên tổ các chủ linh vi. Nguyễn Trọng Khái tuân từ lưu lại Nguyễn tộc Thượng
chi sở hữu ba miếng đất tại ngõ Nhất xóm xứ tứ thổ ngọi là ngõa lang bà địa xứ,
trên đại nguyên trưởng tộc Nguyễn Trọng Dươi sinh đắc nam tử Nguyễn Trọng Kiểu.
Nguyễn Trọng Kiểu sinh đắc nam tứ nhân: Nguyễn Tần, Nguyễn Bệu, Nguyễn Lữ,
Nguyễn My.
Sơ sinh hài dục bị than phù Nguyễn Trọng
Kiểu bị bệnh chết non. Tồn gia phả di kỳ thất lạc. Nam tử Nguyễn Tấn đẳng cùng
lưu lạc tha phương bất chi hà khứ xứ, vô hữu hà nhân.
Kế thế cập hậu đệ nhị chi Nguyễn Trọng Chúc
thiết niệm nhân sinh bản hồ tổ hậu lai. Nguyễn Trọng Chúc đắc nam tử tam nhân:
Nguyễn Giảng, Nguyễn Tụng, Nguyễn Khái).
Đức gia bản giã, Nguyễn Chúc thỉnh nghinh
Tiên Tổ cao tằng Tổ Khảo, phục hồi tại gia tư thổ phụng sự. Nguyễn Trọng Chúc
bất hạnh mạnh một chí nam tử Nguyễn Giảng nhận Tổ tiên phụng sự, hữu bất hạnh mạnh
một cập hậu nam tử Nguyễn Trọng Khái tuân nhân tổ tiên phụng sự bất hạnh bị
bệnh mạnh một. Hốt kiến soạn từ chiểu luật lý trí định tôn từa trọng Nguyễn Tất
Tố (tức Bá Khoan) dẫn giao từ húy kỵ nguyệt nhật hà tuân tiền đại nhận tổ tiên
cao tằng tổ khảo cử tong phụng sự di truyền lưu thế tư duy từ minh kế lưu hậu…
II/ Bút tích của cụ đồ Huy ở Phù Nhị là cháu đời thứ
chín của cụ Tiến.
Thượng tổ Nguyễn Công Thụy Thọ tôn tỷ từ
phái hợp tang tại Hà Nội Thanh Oai Phượng trù xóm tiên nhân hình tổ sinh Mạo
trai công.
Liệt tổ Nguyễn Công Thụy Mạo trai công tỷ
từ hành mô tại long diêm điền tỷ mộ tiền thất tinh hậu tam thái địa khóa vân
van đại đinh tài thế xuất danh nho.
Tổ sinh hạ nhị chi. Giáp chi bảo khế công,
ất chi văn an công, văn an công sinh phúc lộc công.
Liệt tổ Nguyễn Công Thụy Bảo Khê tỷ từ đức
mộ tại tiên nhân hình mộ sinh hạ tam chi:
Giáp chi: Phong
Thiền Công
Ất chi: Đào Tâm
Công
Bính chi: Duyên
Sinh Công
Duyên Sinh Công sinh nhị chi
Giáp chi: Phúc
Hiền Công
Ất chi: Hành
Thiên Công
Liệt tổ Phúc Hiền Công sinh Phúc Tiến Công.
Phúc Tiến Công gi ư Nam Sang huyện Bảo Đà xã Bốc Trạch cư yên tức kim ngã mộc
khởi cơ chi thủy tổ giã. Tổ mộ mả vầng sứ.
Khởi tổ Nguyễn Công Thụy Tiến. Rỗ ngũ
nguyệt thập nhật ngũ ngật (15 tháng 5). Tỷ từ nhu nhân mộ tại mả am linh bồ
câu.
Tổ sinh hạ lục chi:
1/ Giáp chi: Nguyễn Trưởng vô tự
2/ Ất chi: Nguyễn
Bích biệt phái
3/ Bính chi:
Nguyễn Công Luyện trung giàn lạc phái
4/ Đinh chi:
Nguyễn Công Hải Miêu duệ kim
Nguyễn Hoàn,
Nguyễn Ký, Nguyễn Chung, Nguyễn Giản, Nguyễn Sắc, Nguyễn Khải tại xóm ngõ Chùa
(nay là ngành ta)
5/ Mậu chi:
Nguyễn Công Vịnh. Miêu duệ thất chi tộc.
6/ Kỷ chi: Nguyễn
Công Thăng. Miêu duệ kim
Nguyễn Đĩnh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Tuân.
III/ Bút tích của cụ Nguyễn Trọng Thiệu.
Đức triệu tổ Nguyễn Công Tiến giỗ 15/5 là
cháu đời thứ 6 của đức thượng tổ ở làng Bình Đà Thanh Oai Hà Nội. Đức Triệu tổ
lập ấp ở làng Bảo Đà nay là Đông Trụ, Trung Kỳ, Phù Nhị. Ngài sinh ra sáu người
con: Nguyễn Trưởng, Nguyễn Bình, Nguyễn Luyện, Nguyễn Hải, Nguyễn Vịnh, Nguyễn
Thăng.
Trong 6 người con hoặc vô tự hoặc lưu lạc
không kể.
- Hiện nay còn ngành thứ tư là cụ Nguyễn
Hải con cháu thờ riêng một nhà thờ ở điếm ngõ Chùa.
- Ngành thứ 5 là ông cụ Vịnh nay là họ 7
ngành giỗ tháng 10. (Cụ Vịnh sinh ra cụ Quán, cụ Quán sinh ra 7 cụ: Nguyễn
Trọng Nguyễn Hoa, Nguyễn Thiêm, Nguyễn Huỳnh, Nguyễn Thường, Nguyễn Nghiêm
- Ngành thứ 6 là Nguyễn Thăng nay là Nguyễn
Đĩnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Ngọ, Nguyễn Tùy ở Phù Nhị.
Ngoài ra còn dựa vào Lời kể của các
cụ truyền lại
Biên Soạn:
Nguyễn Trọng Tài
Nguyễn Trọng Dung
Nguyễn Trọng Chiến
Nguyễn Trọng Tài
Nguyễn Trọng Dung
Nguyễn Trọng Chiến
Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015
02:17
Unknown
Lời nói đầu
Tổ tiên ta ra đi đã từ lâu, những lời dậy để lại cho con cháu đến nay vẫn còn sâu đậm.
Nghĩa là, Người có lòng yêu nước phải biết lịch sử đất nước. Trong gia tộc phải có phả tích để lưu truyền cho con cháu biết đến tổ tiên.
Nguyện vọng trong gia tộc họ Nguyễn xã Tiến Thắng đặt ra từ lâu. Trong họ phải có gia phả để lại cho con cháu ngày này và sau này biết đến nguồn gốc tổ tiên, tôn ty dòng dõi gia tộc. Nhưng đến nay một phần bị thất lạc một phần do bảo quản nên bị hư hỏng. Hiện nay chỉ còn duy nhất một ban cũ của Đô Huy cháu đời thứ của cụ tổ đề lại bằng chữ Hán Nôm.
Đây là lòng thành kính của con cháu để tổ chức việc làm này. Tháng 5 năm 1976 nhân ngày giỗ tổ đưa ra bàn trong họ. Toàn thể bà con hưởng ứng và đóng góp các tài liệu quan trọng của các cụ cao tuổi và bút tích của các cụ để lại có ý nghĩa lịch sử. Đến tháng 05/1989 họ Nguyễn đã có được tài liệu sỏ thảo. Tiếp tục sưu tầm và chính lý đến tháng 05/1994 họ Nguyễn đã có phả tích tông đô khẳng định được nguồn gốc tổ tiên tồn tại và phát triển. Nhìn lại quá trình đến nay đã 15 đời, họ Nguyễn ta vẫn vững vàng đi lên, con cháu ngày càng phát triển và càng đông đúc. Hoàn cảnh sinh sống xa gần khác nhau, đến ngày giỗ tổ vẫn tìm về tổ tiên, tình nghĩa với quê hương gia tộc.
Trong cuốn sách này một phần nào nói lên toàn bộ nguồn gốc của họ là. Lịch sử của nhà thờ hiện nay, phần mộ quy tụ và các ngày kỵ của các cụ giúp ta nắm được lịch sử của dòng họ gấn liền với đất nước, đồng thời bà con trong họ hệ thống lại hiểu được tôn ty trật tự của mọi người.
Phần này biên soạn chắc còn nhiều hạn chế và thiếu sót mong nhận được sự góp của bà con trong họ để hoàn chỉnh phả tích họ….
Ban biên soạn:
Nguyễn Trọng Tài
Nguyễn Trọng Dung
Nguyễn Trọng Chiến
Nguyễn Trọng Tài
Nguyễn Trọng Dung
Nguyễn Trọng Chiến
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
RSS Feed
Twitter










