f GIA PHẢ HỌ NGUYỄN ~ DÒNG TỘC HỌ NGUYỄN

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015


PHẦN THỨ NHẤT
CỘI NGUỒN HỌ NGUYỄN
Vào triều đại hậu Lê trước năm 1786, xã Tiến Thắng ngày nay tên gọi là Làng Bảo Đà. ở đây chỉ có 2 dòng họ: họ Trần, họ Lê. Trong khoảng thời gian đó họ Nguyễn được hình hành và phát triển do cụ Nguyễn Công Tiến người Bình Đà xã Bình Minh huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây (này là Hà Nội) về đây lập nghiệp. Làng Bảo Đà đến vua Thành Thái năm thứ 3 Tân Mão (năm 1891) làng Bảo Đà chia thành ba thôn: Đông Trụ; Trung Kỳ; Phù Nhị
Cụ Nguyễn Công Tiến thuộc đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn ở Bình Đà. (Bút tích của cụ Thiệu và cụ Bành cung cấp).
     Đời thứ nhất: Nguyễn Công Ích.
     Đời thứ hai: Nguyễn Công Trai.
     Đời thứ ba: Nguyễn Bảo Khê.
     Đời thứ tư: Nguyễn Công Diện.
     Đời thứ năm: Nguyễn Công Hiền.
     Đời thứ sáu: Nguyễn Công Tiến.
Cụ Nguyễn Công Tiến xuất thân trong gia đình nho giáo, cố phụ là Nguyễn Công Hiền là thầy đồ nho, môn sinh của cụ có nhiều người trở thành quan lại trong xã hộ Phong Kiến. Cố mẫu là Trần Thị Trang nguyên quán ở làng Bảo Đà. Cụ Tiến học biết chữ hán nôm cụ đã viết nhiều văn thơ hán tự ca ngợi con người cảnh đẹp quê hương đất nước. Trong đó cụ làm nhiều thơ văn lên án chế độ Phong Kiến và phỉ báng bọn quan lại sấu sa đương chức thời bấy giờ. Bốn câu thơ còn lưu lại như sau:
               Ô nhục nô vong quốc                               
              Chí than xà mã ngưu                               
              Thế nhân chi chỉ cố                                                     
Ngưỡng vọng vô chí thiên
Dịch nghĩa:
Khổ nhục kiếp nô vong
Sống làm kiếp trâu ngựa
Đời người chỉ đói nghèo
Ngẩn mặt không thấy trời.
                                  (Do cụ Bành ở Bình Đà cung cấp)
Bọ quan lại lúc ấy biết cụ dùng văn thơ đả kích chúng nhưng nể thày nên bọn quan lại không dám đả động gì đến cụ và còn mời cụ ra làm quan nhưng cụ từ chối.
Cụ đang sống đầm ấm trong gia đình nho giáo, không may cố mẫu lâm bệnh và qua đời, thời gian không được bao lâu cụ phải sống cảnh gì ghẻ con chồng trong xã hộ Phong Kiến, dẫn tới cụ phải bỏ nhà sống lưu lạc.
Cụ Nguyễn Công Tiến về làng Bảo Đà quê mẹ sinh sống năm tháng trôi qua cụ tìm về thăm gia đình quê hương vào lúc cố phụ Nguyễn Công Hiền lâm bệnh qua đời. Sau việc an tang ổn định bọn quan lại có dịp bắt cụ về tội làm thơ đả kích chúng. Ra hình phạt đối với cụ là: “Phát vẵng trục xuất” nghĩa là hết hạn tù phải đi nơi khác ở. Hết hạn tù cụ Nguyễn Công Tiến về làng Bảo Đà quê mẹ xây dựng gia đình lập cơ nghiệp. Về đây cụ kết duyên cùng với cụ Trần Thị Tâm, hai cụ sinh được 6 người con.
              1/ Nguyễn Công Trưởng          - Vô tự
              2/ Nguyễn Công Bích              - Biệt phái
              3/ Nguyễn Công Luyện            - Trung gián lạc phái
              4/ Nguyễn Công Hải               - Dòng dõi tại ngõ Chùa
              5/ Nguyễn Công Vịnh              - Dòng dõi tại ngõ Trâu.
              6/ Nguyễn Công Thắng            - Dòng dõi tại Phù Nhị
Khi trưởng thành mỗi cụ sống một hoàn cảnh, lưu tán mỗi người một nơi, nay chỉ còn lại 3 ông tổ của 3 ngành họ Nguyễn.                 
1/ Dòng dõi cụ Nguyễn Công Hải
Địa chỉ: Xóm 3 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
2/ Dòng dõi cụ Nguyễn Công Vịnh        
Địa chỉ: Xóm 5 Nhân Thắng xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam         
3/ Dòng dõi cụ Nguyễn Công Thắng 
Địa chỉ: Xóm 6 Nhân Tiến xã Tiến Thắng tỉnh Hà Nam
Còn dòng dõi cụ Nguyễn Công Luyện lạc phái xuống gần Cầu Vòi thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.



PHẦN THỨ HAI
NGUỒN GỐC NHÀ THỜ
Trước 2 thế kỷ cụ Nguyễn Công Tiến là người đạt nền móng khai sinh ra họ Nguyễn thuộc làng Bảo Đà – nay là xã Tiến thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.
Để đền đáp công ơn người, sau khi người từ trần đến đời thứ tư con cháu phát triển đông đúc đã đóng góp thành lập quỹ mua ruộng cày cấy để sử dụng tiết lệ hương đăng. Đến năm 1903 niên hiệu Thành Thái năm thứ 15 họ Nguyễn ra đời đông đúc thành một tổ chức. Dòng họ xây dựng nhà thờ đầu tiên trên 3 miếng đất tư thổ của cụ Nguyễn Trọng Dưới ở phía nam Ngõ Nhất cũ (nay thuộc xóm 4 Nhân Thắng xã Tiến Thắng: Khu vực nhà ông Phú ở). Trong họ đã cử ông Nguyễn Trọng Dưới làm Trưởng tộc đầu tiên. Khi cụ dưới mất cụ Nguyễn Trọng Kiểu là con trai lên thay. Khi cụ Kiểu mất bốn con trai cụ lưu lạc mất tích không còn người đứng ra thừa kế phụng sự tổ đường. Trước tình hình trên trong dòng họ họp bất thường có đại diện ở Bình Đà về dự, kết quả trong họ cử cụ Nguyễn Trọng Chúc (tức cụ Nhiêu) là cháu cụ Hải đứng ra thỉnh nghinh hương đăng cao tằng khởi tổ Nguyễn Công Tiến, Nguyên Công Hải và Nguyễn Công Ca (tức cụ Phó Ca) rước về thành kính tại gia.
Đến  năm 1908 niên hiệu vua Duy Tân năm thứ 2 (năm Mậu Thân) con cháu Ngành cụ Nguyễn Trọng Vịnh đứng ra thành lập nhà thờ riêng ở xóm ngõ Trâu (tại nhà bà Vị xóm 5 Nhân Thắng) thờ cụ bà Trần Thị Tâm, cụ Nguyễn Trọng Vịnh, cụ Nguyễn Trọng Quán và em Trực Ân (Mãnh tổ). Từ đây họ nguyễn có 2 nhà thờ, thờ tổ 2 ngành.
Sau khi cụ Chúc thỉnh nghinh hương đăng về phụng sự tại gia đến lúc qua đời. Tiếp đến cụ Nguyễn Trọng Giảng (tức cụ Cán), cụ Giảng qua đời đến cụ Nguyễn Trọng Tụng, cụ Tụng mất cụ Khái là con thứ 3 của cụ Chúc thừa kế phụng sự tổ nghiệp. Cụ Khái bất hạnh mạnh một hốt kiến soạn từ, chiểu luật lý trí đích tôn thừa trọng Nguyễn Tất Tố (tức cụ Bá Khoan) dẫn giao từ húy kị nguyệt nhật hà nhân tiền đại nhận phụng sự tổ tiên duy truyền lưu thế tư duy từ minh kê lưu hậu. Cụ Khoan mất năm 1912, cụ Nguyễn Trọng Giản là con trai cả đứng ra kế thừa, cụ Giản qua đời năm 1925 mới 41 tuổi. Cụ bà Trần Thị Bớt đứng ra phụng sự tại ngôi nhà gỗ 5 gian của cụ Khoan để lại. Thời kì này con cháu trong họ đã phát đạt đóng góp quỹ tậu ruộng tư điền, trong họ tự cày cấy thu hoa lợi để sử dụng hương đăng tiết lệ trong năm. Đến năm hiệu Bảo Đại năm thứ 10 Ất hợi (năm 1935) cụ Bớt cùng ba con trai (Nguyễn Lược, Nguyễn Tấn, Nguyễn Phụng) tiến cúng 3 miếng đất tư thổ ở phia đông nam để dòng họ xây dựng nhà thờ. Trong họ đã bán 7 sào ruộng tư điền cho ông Nguyễn Trong Nguyên người trong họ lấy 294 đồng.
Trong họ ủy giao cho hai cụ Nguyễn Trọng Sỹ và Nguyễn Trọng Trì đứng ra tổ trức mua nguyên vật liệu xây dựng ba gian thờ tổ và viền thờ bà cô tổ năm 1936 thì hoàn thành.
Sau khoảng thời gian sử dụng nhà thờ xuống cấp nghiêm trọng. Ngày 15 tháng 5 năm 1988 nhân ngày giỗ tổ trong họ đã họp và đi đến quyết định đóng góp để tu sửa cùng với lòng thành kính của con cháu trai, gái ở xa quê hương cũng như ở gần thành tâm  tiến cúng tu sửa nhà thờ. Xây lại tường, bệ thờ, sửa mái ngói, lát nền, xây sân và tường bao đến tháng 3 năm 1993 thì hoàn thành.
Sau 10 năm con cháu trong họ đóng góp, công đức tiền và tiến hành trùng tu rỡ ra toàn bộ nhà thờ và viền thờ bà cô tổ. Xây lại từ móng, giữ nguyên mái ngói cũ đến năm 2005 thì hoàn thành. Hiện nay nhà thờ đã khang trang hơn.



PHẦN THỨ BA
MỘ PHẦN CAO TỔ - NGÀY KỴ NHẬT
     1/ Cụ ông Nguyễn Công Tiến:
Phần mộ: An tang tại mữu vầng (mả giữa). Xây bát giác với diện tích 36 m2
Đến năm 2009 hai ngành họ xây dựng lại thành lăng 3 tầng
Ngày kỵ nhật 15 tháng 5 âm lịch.
        Cụ bà Trần Thị Tâm:
Phần mộ: An tang tại Mả Am
Năm 1971 xây dựng bệnh viên, trong họ có đào di chuyển thì cụ đã về mỏ.
     2/ Cụ ông Nguyễn Công Hải:
Phần mộ: An tang tại mả mồ cội phia sau đền, phía tây chùa Đông Trụ.
Đến năn 2003 con cháu trong họ đã xây lăng hình bát giác cao 2 tầng
Ngày kỵ nhật: Ngày 19 tháng 3 âm lịch.

* Ngày kỵ nhật chính của dòng họ xóm 3 Nhân Thắng xã Tiến Thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.
     1/ Cụ ông Nguyễn Công Tiến: Ngày 15 tháng 5 âm lịch.
     2/ Cụ ông Nguyễn Công Hải: Ngày 19 tháng 3 âm lịch.




PHẦN THỨ TƯ
BÚT TÍCH CỦA MỘT SỐ CỤ ĐỂ LẠI
I/ Bút tích của cụ Nguyễn Trọng Sỹ
                                                               (Cụ Sỹ mất ngày 25 tháng 5 năm 1963)
     Thành Thái thập bát niên lục nguyệt sơ thập nhật Cao Đà tổng Đông Trụ xã (10/6/1925). Thừa kế tổ nghiệp dẫn giao từ húy kỵ tiên tổ các chủ linh vi. Nguyễn Trọng Khái tuân từ lưu lại Nguyễn tộc Thượng chi sở hữu ba miếng đất tại ngõ Nhất xóm xứ tứ thổ ngọi là ngõa lang bà địa xứ, trên đại nguyên trưởng tộc Nguyễn Trọng Dươi sinh đắc nam tử Nguyễn Trọng Kiểu. Nguyễn Trọng Kiểu sinh đắc nam tứ nhân: Nguyễn Tần, Nguyễn Bệu, Nguyễn Lữ, Nguyễn My.
     Sơ sinh hài dục bị than phù Nguyễn Trọng Kiểu bị bệnh chết non. Tồn gia phả di kỳ thất lạc. Nam tử Nguyễn Tấn đẳng cùng lưu lạc tha phương bất chi hà khứ xứ, vô hữu hà nhân.
     Kế thế cập hậu đệ nhị chi Nguyễn Trọng Chúc thiết niệm nhân sinh bản hồ tổ hậu lai. Nguyễn Trọng Chúc đắc nam tử tam nhân: Nguyễn Giảng, Nguyễn Tụng, Nguyễn Khái).
     Đức gia bản giã, Nguyễn Chúc thỉnh nghinh Tiên Tổ cao tằng Tổ Khảo, phục hồi tại gia tư thổ phụng sự. Nguyễn Trọng Chúc bất hạnh mạnh một chí nam tử Nguyễn Giảng nhận Tổ tiên phụng sự, hữu bất hạnh mạnh một cập hậu nam tử Nguyễn Trọng Khái tuân nhân tổ tiên phụng sự bất hạnh bị bệnh mạnh một. Hốt kiến soạn từ chiểu luật lý trí định tôn từa trọng Nguyễn Tất Tố (tức Bá Khoan) dẫn giao từ húy kỵ nguyệt nhật hà tuân tiền đại nhận tổ tiên cao tằng tổ khảo cử tong phụng sự di truyền lưu thế tư duy từ minh kế lưu hậu…
II/ Bút tích của cụ đồ Huy ở Phù Nhị là cháu đời thứ chín của cụ Tiến.
     Thượng tổ Nguyễn Công Thụy Thọ tôn tỷ từ phái hợp tang tại Hà Nội Thanh Oai Phượng trù xóm tiên nhân hình tổ sinh Mạo trai công.
     Liệt tổ Nguyễn Công Thụy Mạo trai công tỷ từ hành mô tại long diêm điền tỷ mộ tiền thất tinh hậu tam thái địa khóa vân van đại đinh tài thế xuất danh nho.
     Tổ sinh hạ nhị chi. Giáp chi bảo khế công, ất chi văn an công, văn an công sinh phúc lộc công.
     Liệt tổ Nguyễn Công Thụy Bảo Khê tỷ từ đức mộ tại tiên nhân hình mộ sinh hạ tam chi:
                   Giáp chi: Phong Thiền Công
                   Ất chi: Đào Tâm Công
                   Bính chi: Duyên Sinh Công
     Duyên Sinh Công sinh nhị chi
                   Giáp chi: Phúc Hiền Công
                   Ất chi: Hành Thiên Công
     Liệt tổ Phúc Hiền Công sinh Phúc Tiến Công. Phúc Tiến Công gi ư Nam Sang huyện Bảo Đà xã Bốc Trạch cư yên tức kim ngã mộc khởi cơ chi thủy tổ giã. Tổ mộ mả vầng sứ.
     Khởi tổ Nguyễn Công Thụy Tiến. Rỗ ngũ nguyệt thập nhật ngũ ngật (15 tháng 5). Tỷ từ nhu nhân mộ tại mả am linh bồ câu.
     Tổ sinh hạ lục chi:
                    1/ Giáp chi: Nguyễn Trưởng vô tự
                   2/ Ất chi: Nguyễn Bích biệt phái
                   3/ Bính chi: Nguyễn Công Luyện trung giàn lạc phái
                   4/ Đinh chi: Nguyễn Công Hải Miêu duệ kim
Nguyễn Hoàn, Nguyễn Ký, Nguyễn Chung, Nguyễn Giản, Nguyễn Sắc, Nguyễn Khải tại xóm ngõ Chùa (nay là ngành ta)
                   5/ Mậu chi: Nguyễn Công Vịnh. Miêu duệ thất chi tộc.
                   6/ Kỷ chi: Nguyễn Công Thăng. Miêu duệ kim
     Nguyễn Đĩnh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Tuân.
III/ Bút tích của cụ Nguyễn Trọng Thiệu.
     Đức triệu tổ Nguyễn Công Tiến giỗ 15/5 là cháu đời thứ 6 của đức thượng tổ ở làng Bình Đà Thanh Oai Hà Nội. Đức Triệu tổ lập ấp ở làng Bảo Đà nay là Đông Trụ, Trung Kỳ, Phù Nhị. Ngài sinh ra sáu người con: Nguyễn Trưởng, Nguyễn Bình, Nguyễn Luyện, Nguyễn Hải, Nguyễn Vịnh, Nguyễn Thăng.
     Trong 6 người con hoặc vô tự hoặc lưu lạc không kể.
     - Hiện nay còn ngành thứ tư là cụ Nguyễn Hải con cháu thờ riêng một nhà thờ ở điếm ngõ Chùa.
     - Ngành thứ 5 là ông cụ Vịnh nay là họ 7 ngành giỗ tháng 10. (Cụ Vịnh sinh ra cụ Quán, cụ Quán sinh ra 7 cụ: Nguyễn Trọng Nguyễn Hoa, Nguyễn Thiêm, Nguyễn Huỳnh, Nguyễn Thường, Nguyễn Nghiêm
     - Ngành thứ 6 là Nguyễn Thăng nay là Nguyễn Đĩnh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Ngọ, Nguyễn Tùy ở Phù Nhị.
Ngoài ra còn dựa vào Lời kể của các cụ truyền lại

   Biên Soạn:
Nguyễn Trọng Tài
Nguyễn Trọng Dung
Nguyễn Trọng Chiến